Đám đông cô đơn trong" ở quán cà phê của tuổi trẻ lạc lối của Patrick Modiano"

Đi sâu vào vấn đề về con người, mà cụ thể là cái cô đơn bản thể, Ở quán cà phê của tuổi trẻ lạc lối của Patrick Modiano đã “kéo tấm màn u sầu”  bằng những “vùng trung tính”, “những hố đen”, những con người đều “không nói nhiều lắm”,… đến trước mắt độc giả. Cốt truyện tưởng chừng như đơn giản với những nhân vật đơn điệu, nếu không muốn nói là tất cả họ đều mang dáng vấp buồn tẻ. Nhưng xuyên suốt cuộc hành trình, mỗi một nhân vật lại mang cho độc giả một cái nhìn đặc dị, mà chỉ ở những ai đã từng trải qua nỗi cô đơn, nỗi trống trải và hoang mang đó mới có thể thấy và thấu.

Con người cô đơn ấy được biểu hiện ở hai phương diện cơ bản. Thứ nhất, con người cô đơn với xã hội. Le Condé – quán cà phê có khách khứa kỳ cục nhất, ở đó, mỗi người khách đều mang trong mình những bí mật về quá khứ mà không ai khác không biết, cũng như không hề muốn muốn biết. Ở đó, họ đến với nhau, ngồi cùng bàn với nhau, chơi trò với nhau, chỉ cần biết tên nhau hoặc thảng nhiên không hề biết tên nhau, chỉ có những cái tên kiểu Louki mà học tự đặt, anh chàng mặc áo khoác da hoẵng,..  và không ai muốn người khác biết mình đã là ai trong quá khứ: “tôi cảm thấy khuôn mặt tôi không gợi lên điều gì. Càng tốt. Nhẹ cả người”. Chỉ có riêng họ với hành trình quy hồi vĩnh cữu ngay trong chính bản thân họ, mọi lúc, mọi nơi. Những Louki, Maurice Raphel, Zacharias, Annet, Don Carlos, Fred, Roland, Guy De Vere… chính họ là đám đông cô đơn trong cái hiện thực đời sống ở Paris đương thời. Ở cái xã hội ấy, con người không kịp sáp nhập vào với nó, có khi không kịp sáp nhập với chính bản thân mình, hoặc có nhưng vẫn ngăn cách với thế giới, tuy nhiên họ vẫn luôn hiện hữu ở một thế giới khác, thế giới của những vùng trung tính, những hố đen, những kí ức buồn. Đám đông ấy cô đơn đến mức nghe rõ tiếng vang vọng những bước chân của chính mình, đôi lúc tuyệt vọng và vô phương đến mức phải tìm đến “tuyết” để xua đi những cảm giác hoang mang, trỗng rỗng trong lòng mình. Thứ hai, đó là con người cô đơn với bản thể chính họ.  Những đêm Louki ra đi với tâm trạng bất ổn, hoang mang, lạc lõng, và khi trở về cũng với một tâm trạng như thế. Chỉ trong cuộc hành trình với những vùng trung tính ấy cô mới thấy cuộc sống là thú vị: “những buổi tối khác, nỗi hoang mang tan biến và tôi sốt ruột chờ cho đến khi mẹ đi khỏi để ra ngoài. Tôi xuống cầu thang, trống ngực đập thình thịch, như thể đang đi tới một cuộc hẹn”. 

Ngoài ra, khi để cho từng nhân vật thực hiện tham vọng chinh phục hành trình quy hồi vĩnh cửu ấy, nhà văn đã để quá khứ lên ngôi, biến những thứ quá vãng thành kho báu của mỗi con người. Và mỗi nhân vật đều bị ám ảnh bởi  những vùng trung tính, những vật chất đen.  Sau cùng tác giả làm cho người đọc ngầm hiểu rằng chính những vùng trung tính, những hố đen ấy dường như là “khởi thủy của cô độc”. Cô đơn và quá khứ luôn hiện diện trong tâm tưởng của mỗi nhân vật và chi phối hành động của họ. Đó là khi Louki ngược về kí ức để tìm sự “đôi thoại” với mẹ, với những quảng trường, con phố, nơi mà cô đã từng là “trẻ vị thành niên lang thang”. Là khi anh chàng mặc chiếc áo khoác da hoẵng Roland đi tìm lại những kí ức  của mình, anh đã hoàn toàn thất bại, thế rồi cái cô đơn bản thể trong anh lại trỗi dậy: “ Kể từ giây phút đó, trong đời tôi đã có một sự vắng mặt, một khoảng trắng, nó không chỉ gây cho tôi một cảm giác trống rỗng, mà tôi không thể chịu đựng được mỗi khi nghĩ đến”. Thế nhưng anh vẫn đi tìm kí ức, dù cho nó có đau buồn đến mấy đi chăng nữa… Kể cả anh chàng học Trường Mỏ, lão già tự xưng là Nhà xuất bản nghệ thuật, ông bác sĩ, và có cả bà chủ quán cà phê Le Condé…

Kết thúc câu chuyện là cái chết không mấy bất ngờ dành cho kẻ cô đơn thứ thiệt - Louki, giống như cái quy luật nghiệt ngã vốn có của cuộc đời rằng những kẻ cô độc bất hạnh luôn tìm về nhà, mà nhà chính là nơi yên nghỉ vĩnh hằng. Ở đó họ sẽ không còn hoang mang, không còn lạc lõng hay cảm thấy trống rỗng, không còn những vùng không gian trung tính, u tối và ở đó họ tìm được cho mình một niềm hạnh phúc thật sự: “Hạnh phúc sao khi được bồng bềnh trong không trung và rốt cuộc cũng biết được cảm giác phi trọng lực mà tôi vẫn tìm kiếm bấy lâu nay”.

Để tạo nên sự hài hòa giữa quá khứ và hiện tại, kết cấu không – thời gian được tác giả khéo léo đan cài với từng câu chuyện của mỗi nhân vật.  Đặc biêt, lớp không gian cố định với những quảng trường, và đaị lộ được nhà văn tái hiện một cách rõ nét, đó là không gian ám ảnh nhân vật, góp phần đắc lực tạo nên bối cảnh giữa cái cô đơn của nhân vật và cái mênh mông, dài rộng của nó. Bên cạnh đó, với sự linh hoạt trong dịch chuyển điểm nhìn của người kể chuyện, người kể chuyện đầu tiên ở ngôi thứ nhất xưng Tôi  - anh chàng Trường Mỏ kể về những con người kỳ cục trong quán cà phê kỳ cục Le Condé, rồi sang những chương khác, anh ta chỉ chỉ là một vai phụ, thế chỗ cho những con người kỳ cục mà anh ta đã kể ấy kể về mình, từ Rolad cho đến Louki hay Guy de Vere… Điều này khiến cho người đọc không hề có cảm giác được kể, mà giống như đang cùng phiêu với cuộc hành trình quy hồi vình cữu ấy, cùng đi trên đại lộ Rachel, Duoai, Fontaine… quảng trường Blanche, Clinchy,…  Mọi thứ  đều  có vẻ như cực kỳ ngổn ngang, rối rắm tưởng chừng như không gỡ ra được, những thực chất đó là sự sắp đặt  tinh tế của  nhà văn.

Có thể thấy, với tính đơn nhất của thế giới mà Pactrick Modiano đã biểu đạt, đồng thời cùng tính đặc dị được biểu hiện thông qua tính cách nhân vật, sự phân tán các quan điểm của họ trước cuộc đời, cuốn tiểu thuyết này đã thể hiện được phần chính yếu của con người, cái tôi sâu thẳm bên trong, cái cô đơn của con người với cuộc sống đời thực. Nhà văn đã rất thành công  khi vận dụng triết học của Guy Debord  biến nó từ một thứ triết lý khô cằn thành một bản nhạc trữ tình với những âm điệu du dương, sâu lắng và có sức khơi gợi vô cùng đối với độc giả.

(Theo Trần Thị Ty - Văn Chương Việt)

“Thoạt kỳ thủy” dưới góc nhìn tâm thức hiện sinh

Đi tìm lời giải thích cho một văn bản, cũng là lúc chúng ta có dịp được tiếp xúc với một thế giới mới. Thế giới ấy, lại là sự hiện thân cho chính cái nhìn của tác giả về những gì mà anh ta đã trải nghiệm và không ngừng sáng tạo nên nó. Thông qua văn bản, chúng ta tìm cách khai thông cho mình một con đường để đến với thế giới đó. Nhưng liệu rằng, trong sự khai thông vừa nhắc đến chỉ có thể có duy nhất mỗi một con đường cho bất kỳ ai tự nguyện là một khách lữ hành dấn thân trên con đường ấy hay không? Quả nhiên, sẽ rất khó để có thể tồn tại một con đường đầy mộng tưởng về tính tuyệt đối như thế. Mỗi con đường là một giải pháp mà theo từng cá nhân sẽ là khả thi để họ chọn lấy khi tiến hành phân tích tác phẩm. Con đường đến với khát khao khám phá trong kỳ vọng thông hiểu tác phẩm một cách đầy đủ nhất. Và tác phẩm để khám phá sẽ không thể được trưng ra một cách ngẫu nhiên như bản thân nó vốn chẳng có điều gì đó đáng chú ý cả. Một đòi hỏi thiết yếu là nó phải chứa đựng những thách thức, tỏa ra từ chính nội lực của bản thân nó - mang đậm tính khiêu khích. Thoạt kỳ thủy - một tác phẩm độc đáo của Nguyễn Bình Phương, theo chúng tôi, là một tác phẩm đủ nội lực để hấp dẫn như thế. Và giải pháp mà chúng tôi chọn lấy để tiến hành khai thông tác phẩm này không khác đi trong một chiều hướng phân tích dưới góc nhìn tâm thức hiện sinh (hiện tượng luận hiện sinh).

Chúng tôi đã cố gắng gạn lọc toàn bộ tác phẩm để qua đó có thể nêu lên những câu hỏi sơ yếu về nội dung của nó. Và các câu hỏi được đặt ra đóng vai trò như mỗi một luận điểm quan trọng, đồng thời, như là mỗi bước đi vững chắc để có thể tiến đến nhằm chỉ ra ý nghĩa của tác phẩm muốn nói nên điều gì. Thông qua thao tác lần mở và phơi bày, chúng ta sẽ được dẫn dắt từ từ qua những nẻo đường thâm u của Thoạt kỳ thủy mà đích đến của nó lại như một sự neo buộc về với những gì quang đãng mà nhân bản nhất.

1. Tính là ai? - Sự trôi dạt bản ngã như là tiếng gọi thê lương của tồn tại

Tính là nhân vật chính trong truyện. Vừa mới sinh ra Tính đã thấy trăng. Nỗi sợ hãi khi nhìn thấy trăng đã theo Tính suốt cả cuộc đời. Ngay khi mới lọt lòng, nhìn thấy trăng Tính đã sợ, co lại, thét lên và choáng ngợp trước thứ ánh sáng lạnh lẽo, rên xiết ấy. Con người này đã bị ám ảnh trước thứ ánh sáng vàng trắng kia. Một nỗi ám ảnh tai ương ngay từ thuở bình minh của đời người. Nỗi ám ảnh ấy là dấu hiệu cho những úy kỵ về sau, khi lớn lên, Tính đã bộc lộ ra. Bản thân Tính bị coi là điên, điều đó là sự thật. Một sự thật không chờ đến khi Tính giết đứa bé điên ở làng Thổ, dúi diêm đốt cháy nhà ông Điện hay đâm chết ông Khoa, mà trước đó, với những biểu hiện không bình thường người đọc đã có thể biết được Tính là một người điên. Nhưng nếu chúng ta nhìn vào Tính với một sự điên loạn như thế, thiển nghĩ, cũng khó có thể hiểu được điều gì còn khuất lấp đằng sau những triệu chứng không bình thường ấy của Tính. Tiếng gọi thê lương của tồn tại luôn được cất lên một cách dai dẳng trong suốt cả cuộc đời của Tính. Một tiếng kêu xé lòng đối với một đời người. Tiếng kêu đấy lâng lâng, miên man có khi rống lên như một sự gào khóc của phần người bên trong bản thân Tính. Và khi đi tìm những gì còn khuất lấp đằng sau cuộc đời hiện thực đấy, ta mới thấy được sự hiện sinh của Tính chua chát đến như thế nào.

a. Một sự trình hiện thất bại của bản ngã (self)

Bản ngã của một người, khi người ấy trình hiện trước thế giới, với những sức mạnh nội lực như là điều kiện để cho bản ngã chính thực của người đó được biểu lộ. Ở Tính có sức mạnh ấy không? Rõ ràng là không, với một kẻ sinh ra thấy trăng đã sợ hãi, thất thần và bị nhấn chìm trong thứ ánh sáng hư huyễn kia thì không thể nào hàm chứa trong mình một sức mạnh dù là nhỏ nhoi trong ý nghĩa nội lực được. Và đó như là một định mệnh của Tính, sự sợ hãi gieo rắc lên trên toàn bộ tinh thần Tính, khả năng lôi cuốn cho sự hiện trình của bản ngã ở Tính đã thất bại một cách thê thảm. Cái bản ngã ấy, nếu có, chỉ là một cái gì đó mờ nhạt, lay lắt. Sự thất bại hiện trình bản ngã đích thực của một con người trong mong muốn trình hiện ra ở thế giới đã kéo con người vào trong hố đen của những điều phi lý tưởng chừng như không bao giờ có thể thoát ra khỏi đó được. Và sự thật cay đắng là bản thân Tính đã bị quẳng ném một cách không thương tiếc vào trong hố đen phi lý đó. Bản ngã của Tính không còn là một sự hiện diện đầy đặn cho con người như nó vốn quy định nữa. Khi tuổi thơ chỉ biết bắt công cống hay kiến để giết. Một sự thất bại trong nỗ lực trình hiện cái bản ngã đó đã không thành cũng vì do ở nội lực đó đã không tiềm tàng một chút sức mạnh nào cả. Giết kiến hay giết công cống chính là cách mà Tính muốn có được sức mạnh ấy, nhưng đó không phải là một thứ nội lực hữu ích để tạo điều kiện trình hiện cho chính bản ngã của Tính. Khả năng trình hiện đích thực của bản ngã đó đã bị vùi sâu vào bở thửa của một sự lưu đày nhân tính trong con người Tính. Một sự thất bại ê chề của cả một cuộc đời u ám.

b. Một sự tham dự mờ nhạt của bản chất (essence)

Chính sự lưu đày nhân tính trong con người Tính đã tạo nên một hệ lụy nghiêm trọng trong bản chất của Tính. Bản chất ấy khó có thể được xem như đó là bản chất của một con người. Một con người bình thường bao giờ cũng là sự tham dự đậm nét của nhân tính đóng vai trò như là bản chất cố hữu của con người. Và bản chất đó của Tính đã được ông Phùng thốt ra qua câu nói về Tính nghe như nửa đùa nửa thật: “Thằng Tính là thanh gươm không có vỏ”[1]. Rồi đến lượt ông Điện nói về Tính khi ông không cho Tính đi mổ heo cùng nữa: “Thằng này lớn lên nguy hiểm lắm.” Chính trong một sự tiêu biến bản chất người bên trong Tính mà cả ông Phùng và ông Điện đều đã có linh tính báo trước được về con người của Tính. Một sự chìm nghỉm trong nhận thức có lẽ không bao giờ tồn tại khái niệm phản tỉnh. Bản chất con người Tính vì thế mà bị thao túng đến cùng cực. Sự tham dự của bản chất con người ngập tràn nhân tính là một điều gì đó vô cùng xa xỉ đối với Tính. Thứ bản chất ấy dường như là một sự méo mó trong cùng tính chất gần gũi với chứng tâm thần phân liệt (schizophrenia). Bản chất con người Tính đã bị xóa sổ đi trong mọi ý nghĩ của Tính. Sự di căn từ những hình ảnh lúc đi chọc tiết lợn cùng với ông Điện, đã ghi dấu vào thâm sâu nơi con người Tính, để rồi đến nỗi phần đời còn lại của Tính chỉ gói gọn trong ý nghĩ “chọc tiết”. Một sự ấn kí tàn nhẫn lên trên tâm trí một đứa trẻ non dại, những hình ảnh man rợ cứ theo nó đi hết cả cuộc đời héo úa, lụi tàn.

c. Một sự nhập cuộc vô nghĩa của tồn tại (being)

Sự tồn tại của Tính là sự tồn tại của một kẻ lưu vong biệt xứ. Tồn tại không được nhận dạng trong một ý nghĩa của hai chữ con người. Đó là một sự tồn tại khiếm khuyết mà bản thân Tính không bao giờ có ý định chối bỏ nó. Tính là một kẻ lạc loài, một kẻ sống như người mà chẳng phải người. Khi mà bản tính điên loạn âm ỉ ngày một dữ dội hơn thì biểu hiện của Tính càng lộ rõ. Cái ánh mắt dán chặt vào yết hầu của những ai mà Tính để ý dường như gần giống với một sự thèm khát được thực hiện thông qua hành động chọc tiết lợn, theo cách ông Điện đã làm trước đây. Tồn tại của Tính bị phủ lấy một màu đen xám xịt, tù mù của những bấn loạn triền miên mà không hề vơi bớt một biểu hiện nào đó có thể dung hòa lại mọi thứ. Nó là cả một sự xáo trộn không ngừng nghỉ của những động cơ gàn dở đến hắc ám. Phản ứng sau khi giết thằng bé điên, đó là những phản ứng của kẻ đang xảy ra những xung đột nảy lửa tận bên trong tâm lý hỗn loạn của chính hắn. Và rồi lần lượt là những con lợn bị chọc tiết, bản tính điên loạn ấy đã được đẩy đến độ cao trào. Tồn tại của Tính ngập tràn trong máu và chọc tiết. Thứ tồn tại cực kỳ vô nghĩa đối với một con người. Bản tính ấy đã là một sự triệt hạ toàn bộ mọi thứ có ý nghĩa thuộc về phần người của Tính. Một sự nhập cuộc vô nghĩa của tồn tại đối với Tính mà giờ này đã được chủ động một cách triệt để cho những sự định hướng về một công thức rất đơn giản: máu và chọc tiết.

d. Một sự chìm đắm dị dạng của Dasein (hiện thể)

Nhìn vào Tính, sự lẫn lộn giữa vật và người đã tạo nên một cái nhìn đau đớn cho thân phận ủ dột ấy. Đó là sự thống ngự của phần con choán chỗ hết tất cả những ảnh hưởng của phần người. Đó là một sự rỉ tai của thú tính vào cơ chế hành động của Tính. Do đó, sự lẫn lộn về bản chất của Tính là một điều khó tránh khỏi. Dasein không khoác lên con người Tính một ranh giới đàng hoàng của hiện sinh trong cái nhìn của một nhân vị. Nó là một sự lệch lạc nghiêm trọng đi ra ngoài khả năng ảnh hưởng của Dasein - yếu tố tiêu biểu của hiện hữu người. Dasein chỉ có ở một con người, một hiện hữu đúng nghĩa. Trong khi đó, ở Tính, ranh giới để phân định rằng Tính là người hay là thú dường như mờ nhòa trong một sự thiên lệch về phía thú tính của chính hắn. Điều gần gũi trong một sự đồng lõa với những kiểu cách hành xử của Tính kéo bản thân hắn xa rời về tầm mức không thể trì giữ được của những giới hạn an toàn đối với một sự bám víu về lại với nhân tính. Dasein trong phần người nhỏ nhoi còn lại của Tính đã chìm đắm trong sự dị biệt khó tìm được một giải pháp hàn gắn khả thi. Một sự hiện sinh mà Dasein trở nên dị dạng thì coi như đó là một sự hiện sinh chua chát đến dường nào. Tính là hiện thân cho một sự đau đớn của quần sinh (humanity), vì hắn “đã không đảm nhận được những nền móng hiện hữu của mình, và Dasein của y chạy trốn nỗi lo âu hiện hữu vẫn bám víu vào những lý tưởng không thể đạt tới”[2]. Hẳn là Tính sẽ không bao giờ có thể ý thức được điều đó, bởi vì ý thức của Tính đã chết từ lâu lắm rồi. Một sự thắng vượt đã trở nên trì giữ lâu đời khi hướng đến đích nhắm tạo ra một hậu cảnh tối tăm kiểu đó, Dasein không bị ruồng rẫy thì cũng đã được an bài nơi mộ táng. Dường như nó đã ngán ngẩm đến ê chề trước lịch trình của chọc tiết, từ máu lợn và không loại trừ luôn cả máu người, cứ thế chảy suốt như vậy.

2. Linh Sơn ở đâu? - Mê cung huyền ảo như là một sự bẽ bàng của ý thức

Linh Sơn là một địa danh có thật trong thực tế, đã được Nguyễn Bình Phương chắt lấy rất nhiều những cảm hứng khi viết nên Thoạt kỳ thủy. Để trả lời cho câu hỏi này thì với việc nêu tên địa điểm nhằm trả lời câu hỏi ấy thì quả thật quá ư ngây thơ và khờ khạo. Mà trên hết, việc đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi kia chính là việc thâm nhập vào một chốn ải biên cương của thâm u, tịch mịch, nó tiêu biểu cho chính những ngóc ngách ẩn giấu đằng sau những gì đang có ngay đây thôi. Chúng ta sẽ không loại bỏ khả năng quy chiếu quá trình tìm ra câu trả lời đối với câu hỏi ấy trong một liên hệ gần gũi với những điều đương diễn này.

a. Ý thức đứt đoạn trong dòng chảy tự trầm của không gian kỳ bí

Không gian ở Linh Sơn là biểu tượng cho những điều còn được tham chiếu trong sự cùn mòn đủ dạng của nhân sinh. Chúng ta sẽ lấy thước đo ý thức để dóng đến việc mô tả và phân tích không gian ở vùng đất này. Một dải trình của ý thức đứt đoạn và chắp nối. Một thứ ý thức khúc khuỷu và tràn đầy những biến cố khó lường. Không gian kỳ bí luôn nhuốm sặc một màu sắc của ý thức đứt đoạn. Chuyển tải trong một lưu động tự trầm ngẫu nhiên, nhưng không kém phần uẩn khúc. Sự lờ mờ như được vẽ ra trong những nét MIÊU TẢ ĐỐI VỚI VUNG ĐẤT NAY ĐA PHAN NAO CHO THẤY TÍNH CHẤT KY BÍ CỦA NÓ ĐƯỢC thể hiện ra sao. Đó là những “rặng bạch đàn rì rầm đen”, là “một mớ hỗn độn, bùng nhùng” khi trăng đến. Tất cả chiều ngang ở Linh Sơn đã hiện ra trong những kích thước không cùng của bí hiểm. “Ao Lang đen thẫm, lầm lì, bí ẩn như khuôn mặt người câm.” Không gian ở đây là hiện thân cho chính ý thức của con người nơi đây. Ý thức phả vào và không gian đã được tái hiện trong một chiều kích hướng về phía phác họa nên những điểm xuyết cho chính ý thức đang thoi thóp, đang rối rắm kia của con người ở Linh Sơn (các nhân vật trong truyện). Ở đây, không gian không còn là một sự hiện diện ngang bằng với thiên nhiên trong vai trò phô diễn các đặc điểm của mình nữa. Nó đã bị nhuốm một màu sắc của chính ý thức đang tham gia vào quá trình tạo tác nên cái không gian ly kì ở trong truyện. “Trời trong veo ở phía Đông, còn bên Tây lại đục ngầu, sôi ùng ục.” Bản thân ý thức thể hiện được sức sống tự nhiên của con người. Bây giờ, nó đã trở nên đứt đoạn và do đó quá trình vận hành của nó, dường như ở đó chẳng qua chỉ là một sự vận hành ì ạch trong thói quen, trong tập quán của nó mà thôi. “Trời bừng lên màu đỏ bầm rồi ánh sáng tắt hẳn. Đêm tràn lan theo các lùm cây. Mặt đất loang lổ.” Mối tương quan giữa ý thức và cảnh vật đã trở nên một sự tự định hình cho những lỗi lầm mà ý thức mắc phải. Để trong một chiều kích vươn ra và tỏa rộng theo chiều hướng của nội tại, nó đã phải khoác lên trên mình những gam màu của mênh mông, man dại. Cứ như thế nó chìm nghỉm trong một dòng chảy của lạnh lùng và bí hiểm.

b. Ý thức hỗn mang trong tham chiếu kì cùng của thời gian huyền thoại

Chỉ có thời gian huyền thoại mới đáp ứng được yêu sách này trong Thoạt kỳ thủy. Thời gian trong Thoạt kỳ thủy không phải là một thứ thời gian tuyến tính như trong thực tế - một chiều thứ tư của không gian vật lí. Nó là diễn trình sóng đôi của các sự kiện. Nó cho phép được tái hiện, được vi phạm mọi quy tắc tuyến tính mà thời gian thực không cho phép. Làm sao mà chỉ trong vòng 45 phút để nói về chuyện con cú bị bắn rơi, trôi theo dòng nước, rồi lại bay lên trong khi đó là một sự sóng đôi với cả cuộc đời của Tính, cả những biến đổi to lớn đối với những người dân ở Linh Sơn? Thời gian trong truyện đã cho phép tái bố trí những sự kiện mà chính những sự kiện ấy đảm bảo được tính hợp lý của chúng, trong chiều kích của thời gian huyền thoại. Cái thứ logic riêng biệt của nó chỉ có thể chu cấp cho những tham chiếu cật lực để qua đó giúp ta hình dung về mối quan hệ tác động giữa hai phía. Đó là một sự mở ra trong yếu tố phi lịch sử, nhưng không vì thế mà nó lại trở nên phi lý trong tính chất sử tính của sự kiện. Nó là sự vận hành của đại bộ phận những phân bố, những sắp đặt không có trật tự trong quá trình hiện diện hóa các sự kiện diễn ra như thế. Thông qua quá trình hiện diện của các sự kiện, trong một tính chất bắc cầu về với những sự sắp đặt khó bám víu vào trong cái được gọi là một trình tự đúng nghĩa. Những sự sắp đặt vô hồn ấy, hay là những trình tự biểu kiến đó cho ta thấy ý thức của con người Linh Sơn đang bấn loạn theo nhịp điệu mà các sự kiện tạo ra. Đó không như là một điều đơn giản mà các biến cố góp sức vào nhằm thay đổi các sự kiện theo những chiều hướng khác đi nhưng đó lại là một sự gia công thêm vào để cho trình tự các sự kiện diễn ra trong truyện đượm màu huyền thoại hơn nữa. Một sự hỗn mang đang nung nấu trong tâm can mỗi con người nơi đây. Trình tự sự kiện cho ta biết được cái cách mà thời gian được xây dựng như thế nào. Và đấy chính là nút thắt và lại ngang bằng với trung tâm của những neo buộc chính đáng đối với thao tác tham chiếu kì cùng của thời gian huyền thoại, để như một đáp ứng cho những trình tự được thỏa mãn một bộ quy tắc dựng sẵn nào đấy mà nó có đầy đủ lý do để diễn ra trong nhịp điệu vận hành đầy ma mị của nó, nhưng sơ yếu, nó vẫn là một thứ âm bản của ý thức hỗn mang mà các nhân vật đã thiết lập nên.

c. Lương tri hủ lậu hay là một sự biến tính (denatured) ý thức giữa điên và tỉnh

Đó như là một sự toa rập lầm lỗi giữa những thứ mãi mãi không thuộc về nhau. Nhưng ở đây, nó lại bắt cặp đến kinh hãi trong một thứ keo dính bám chặt như thế. Một sự toa rập mà giới hạn của nó là ở đâu, chẳng ai biết. Chỉ biết đó là một sự phủ bày của cảm trạng điên loạn vào trong trạng thái bình thường. Do đó, đã vẽ ra một kết cục của sự biến tính ý thức hay là chính sự biến tính ấy đã tạo nên một sự toa rập kỳ cục đó? Đấy là đám người điên ở làng Thổ, là Hưng như là những biểu hiện của chính cái sự toa rập nhập nhằng ấy. Bởi nguyên nhân không nằm ngoài con người họ mà nó xuất phát từ chính sự nhận thức đúng đắn đã bị thao túng đi, để rồi đem lại một kết quả không gì khác của một thứ lương tri hủ lậu chẳng đáng một xu bỏ túi. Đó là một sự nhọc nhằn cho việc lắng đục khơi trong đối với những trường hợp như thế này. Một sự song hành bộ đôi giữa điên và tỉnh, các câu nói của những người điên ở làng Thổ cũng đã phản ánh nên ở đó một sự lay lắt khó hiểu trong con người họ, trong cộng đồng mà họ đang sống ấy - một Linh Sơn trùng mộng. Và cả Hưng nữa, một đứa con thiếu tháng của sự biến tính ý thức trong chính hắn. Trong một đường hướng quan hệ không xa, dường như Hưng đã phần nào tác động lên Tính, để cả hai cùng dạt vào một hoang đảo đầy rẫy những vướng mắc, những toa rập của cả hai thứ vốn chẳng bao giờ chịu ngồi lại cạnh nhau cả. Một thứ triệu chứng về vấn đề tâm lý đã đè nặng lên đôi vai của ý thức con người y, để coi như đó là một sự xả bỏ thả cửa cho những nguy nan mà xác thân hắn gánh chịu lấy. Một thứ lương tri èo uột đến mẫn cảm nhưng lại hết sức bình thường đối với những con người nơi đây. Và cũng chính vì sức căng hiện diện của thứ lương tri đó mà ý thức đã bị biến tính một cách không thương tiếc. Một sự hủ lậu hay là tia nhìn ma quái vào gáy ông Phùng, cuối cùng cũng đã đổ sập trong một sự chống đỡ yếu ớt của lý tính, vì chính ý thức đã được an phận yên nghỉ rồi.

d. Cơ năng (mechanism) hư đốn hay là một sự thao túng ý thức giữa mộng và thực

Mắt chó vàng như trăng”. Có thể xem đây là câu cửa miệng của Tính. Một câu nói tưởng chừng như vờ vĩnh nhất lại được đem ra đáp lại khi Tính đi mua rượu ở nhà bà Ất. Bám theo nó, để ta chơi trò bập bênh với chính những ảnh tượng mà nó tạo ra. Một thứ ý nghĩa kỳ quặc không khác đi nhiều lắm so với chính những hành động trì độn của Tính, một thứ cơ năng hư đốn đến mưng mủ. Những cái cười vô duyên hay là những nỗi sợ hãi khi thấy ánh trăng, trong một liên hệ không xa lại một lần nữa khiến Tính quay về với tuổi thơ, từ cái lúc mới sinh ra đã choáng ngợp trước cái thứ lân tinh lạnh nhạt ấy. Để rồi, Tính lấy đá ném trăng. Ở đây, bên trong bản thân Tính đang là một cuộc hội ngộ giữa hai thế giới: mộng và thực. Chúng song trùng nhau như là hành động mà mỗi bên muốn thu hồi chủ thể tạo tác của mình vào trong địa giới mà mỗi trung khu điều lệnh kiểm soát. Đó là những giấc mơ lạ lẫm của Tính, và đó là cả những hành động khù khờ của một chủ thể đang bị xé đôi ra trong sự giao tranh, nhằm phân mảnh chính con người của hắn, với mục đích vứt bỏ vào trong một xoáy sâu thăm thẳm, của sự thao túng ý thức về với mỗi địa giới được kỳ vọng là thắng thế ở từng giai đoạn. “Thiếu một thực tại độc đáo để kính ngưỡng, phản ánh và siêu việt, chuyển động duy nhất khả thi là sự hoán vị theo chiều ngang từ một thế giới sống này đến một thế giới sống khác.”[3] Một sự níu giữ giữa hai lựa chọn, dừng lại tất cả để chuyển sang dòng độc thoại nội tâm lếch thếch những tủn mụn vật vờ của suy nghĩ, hay như là những hành động chọc tiết trong giấc mơ, máu và con dao, như một sự lừa phỉnh để lôi kéo rồi ghì chặt Tính vào trong vẻ choáng ngợp, khi ý thức bị dí chặt vào đấy, vào cái thứ mộng ảo mơn trớn ấy. Để rồi mới thấy được rằng, cơ năng hư đốn trong đời thực của Tính chẳng qua cũng chỉ là nạn nhân xấu số cho những điều tiết xuất phát tận trong sâu thẳm của bản năng, của vô thức chính hắn. Đó là một sự thao túng ý thức thành công ngoài cả mong đợi đối với nó - vô thức. Sức ngự trị của nó đã đẩy Linh Sơn vào cái thế đầy ắp những bí ẩn điêu tàn của quần sinh (humanity). Linh Sơn đã được đổ đầy trong một tác động nội tại của cái thứ đục ngầu vô lối ấy. Linh Sơn ở ngay đây thôi, không xa lạ gì cả. “Mắt chó vàng như trăng.

3. Vì sao Tính chết? - Tha nhân u uẩn (dark) như là một sự tự đào thải (self- rejection) của bi kịch làm người

Cái chết của Tính, một cái chết có thể coi như một sự minh chứng cho bi kịch làm người. Cái sự làm người đối với Tính dường như là quá khó và mãi mãi chúng ta không biết được những cố gắng, cũng như những nỗ lực của Tính, trong mong muốn hướng đến cái sự làm người ấy có hay không. Công thức đơn giản đó: máu và chọc tiết, giờ này đã hoàn tất chương trình của nó, nó chỉ dừng lại khi chính con người tạo ra công thức đó bị chính công thức ấy triển khai mà thôi. Tội lỗi có thể coi như đổ dồn lên đầu Tính được không? Cái chết đó có được truy vấn về nguyên nhân của nó hay không? Chết đã là một bi kịch, nhưng trong đương lượng ngang bằng với một sự tự đào thải thì cái chết đó còn hơn là một bi kịch nữa. Đó là bi kịch của kẻ thất bại trong hành trình làm người của chính mình. Chính cái sự tự đào thải ấy mà ta cố gắng thông cảm cho Tính, thông cảm cho một thân phận bi kịch, một kiếp người chua chát. Số phận đã mua bán đời Tính cho sự mông muội man khai nhất có thể, và rồi là một sự đổ dồn liên tục vào những lát cắt u mê ám chướng, một sự đọa đày cay đắng cho một con người còn chưa đi hết nửa đời. Cái chết ấy đã rũ bỏ hiện hữu và cũng như là một lời hối lỗi muộn màng. Kết thúc, cái chết ấy gợi cho ta những trầm uất lê thê tựa hồ như cái chết ấy ta đã may mắn không mắc phải, bởi ta được đặc ân hơn, vì con đường ta đi quang đãng hơn con đường của Tính đã đi rất nhiều.

a. Sự điêu toa của những điều hổ lốn hay là con người của những biểu hiện thấp hèn.

Dai dẳng của cái thứ mãi mãi không chịu quân bình - u uẩn nhân tính. Đó là điều mà chúng ta ngao ngán nhất. Nó là cái gì mà lại ghê tởm như thế? Cái thứ u uẩn ấy, nó điều động để chi phối cơ năng hành động của chúng ta, nó rắp tâm báng bổ lại tất cả, những giá trị được xô đổ vào cống nước thải cũng chỉ vì cái thứ hổ lốn ấy. Nó muôn hình vạn trạng, vây bủa, ngụy trang để rồi tự trát vữa cho nó một bộ mặt điêu toa không bao giờ cảm thấy xấu hổ cả. Và do đó, chính nó đã kéo con người Tính đi theo hết vết xe đổ này đến vết xe đổ khác. U uẩn nhân tính đó đã làm ý thức chúng ta luôn đề cao cảnh giác để duy trì cái sự quang minh của chính mình, nhưng tiếc thay, cái phần quang minh đó, trong con người Tính không có đủ sức mạnh để thắng vượt trước sự áp chế của cái phần u uẩn ấy. Và cái thấp hèn đã được đem lại khi nhìn nhận về Tính một cách đơn điệu như thế, chẳng giống với việc e dè một chút nào cả khi xem như đó là sự chỉ định của cái thứ u uẩn đó. Nó hổ lốn không cùng, trên mỗi bước đi nó đã bắt Tính thú tính hóa một cách từ từ. Nỗi u uẩn ấy đã hồ hởi ghi lại âm thanh ông Điện đưa dao đi vào cổ con lợn một cách sừn sựt, và cái yết hầu đã trở thành như một hình ảnh thường trực đối với Tính, từ đó nó phả ra như một cơ chế co thắt, giải nén vậy. Nó huy động cái cơ năng phù hợp với nó, và Tính đã trở thành một thằng đồ tể ngoan ngoãn nhất. Cái sự vấy máu của Tính khi lần mò từ những con công cống, những con kiến, để rồi đến những con lợn nhà hàng xóm và cuối cùng là những con người. Cái thứ u uẩn ấy không biết dừng lại và tự quy định đâu là những giới hạn của chính nó, nó biến cơ năng hành động thành kẻ nô lệ cho một sự thỏa mãn - một sự thỏa mãn khi ý thức đã tịch diệt từ lâu. Một thứ âm ỉ quay quắt, nó rỉ máu đến tận bàn tay của chính mình, để tự kết liễu đời mình. Giải pháp đó là quá đúng đắn và thiết yếu nhưng lại là một sự phạm quy và gian lận trong cuộc chơi nếu như không có điều đó chắc cũng sẽ triền miên lâu dài trong cái thứ u uẩn, hổ lốn này. Phạm quy và gian lận đó ngang bằng với một sự tự đào thải thông qua cái chết của Tính - để thấy đó, chọc tiết có thể tự chọc tiết luôn cả mình được nữa, một sự tự đào thải của kẻ lạc loài, một điêu linh rạn vỡ.

b. Số phận đọa đày trong dị chủng (impureness) hay là niềm tin vào những điều không thực (ngụy tín)

Một lối đi đã nhàu nát trên bước đường của Tính đến với đời. Trăng luôn là biểu tượng của những nét đẹp, của nguồn sống trong tâm thức con người. Nhưng đối với Tính, trăng hiện lên như một biểu tượng tràn đầy chết chóc, nó chẳng qua cũng chỉ là cái thứ ánh sáng vàng nhạt để rồi thẫm một màu đen đúa đến ngây dại. Đó là một cái nhìn về trăng đầy ám ảnh từ Tính. Một cái nhìn đã đẩy đối vật vào trong những sắp đặt và chu cấp bởi những niềm tin giả trá, tồi tệ hơn là một sự sợ hãi đến độ quẫn trí trước biểu tượng ấy - trăng. Số phận Tính tạo ra cũng đi theo một niềm tin không thực như thế, vào sức mạnh của bản thân muốn đối diện với chính cái thứ bị mình coi như là ma quái ấy. Và cả cái thánh giá đeo trên cổ của ông Khoa cũng không là ngoại lệ. Tính chả biết nó với ý nghĩa đúng thực ra làm sao, trong mắt Tính những thứ như trăng và tượng Chúa đều là những biểu mẫu của sự hướng đến từ một niềm tin ngụy tạo. Và bởi vì một điều rằng, bản thân Tính đã bị đọa đày trong một thứ bản mệnh dị chủng của mình quá sớm nên những thứ đó đối với Tính, cơ bản là vô nghĩa. “Đi tìm cuộc sống trong thế giới khả dụng, Dasein đã dần dần không còn biết đến bản ngã chân thực của mình mà chỉ biết những gì thực ra là do đời tạo ra.”[4] Và do đó mà giải pháp Tính chọn lựa là đi theo tập quán của cơ năng hành động chính mình. Chính con người Tính đã sản sinh ra những hành động quái đản để phô bày bản mệnh dị chủng đó của bản thân. Dị chủng là thứ không thuần nhất, cái bản mệnh bị nó choáng ngợp chính vì thế nên không thể đặt niềm tin vào đâu cho được, để hứng lấy sự dấn thân của mình vào trong những lý tưởng. Bản mệnh đó chờ đợi một sự phục sinh để ôm ấp nó, để giúp nó có thể chiến thắng đối với sự đọa đày thê thảm ấy. Nhưng sự phục sinh thì không đến, vì thế mà bản mệnh con người Tính đã èo uột như cái thuở đầu đời hắn đã phải như vậy. Ngụy tín đó đã làm cho Tính trỗi lên một sự thúc bách cùng quẫn qua cơ năng chọc tiết của mình. Khi “chiếc thánh giá bắt nắng vụt lóe lên rọi thẳng vào mắt Tính” thì cũng là lúc Tính lắp bắp từ “Trăng”, và ông Khoa bị chọc tiết. Một sự liên hệ minh chứng cho bản mệnh dị chủng đó của Tính. Một thứ bản mệnh đã chịu sự đọa đày đến thê thảm, khi biến mình thành một kẻ giết người là không thể chấp nhận được khi coi kẻ đó như một con người. Một sự phũ phàng khi cố gắng đến với máu để tìm cho mình hơi ấm từ máu, nhằm xóa đi cái cảm giác lạnh lẽo ấy của bản thân. “Lạy mày đừng vàng nữa. Lạnh lắm.” Chỉ có cách trung hòa ấy mới cho Tính một sự cân bằng, nhưng đó lại là một sự cân bằng phải trả giá quá đắt. “Máu của Tính trào ra, ấm, nóng.” Cái giá ấy đem cho Tính một sự thí mạng như thế thật tàn nhẫn. Cái chết của ông Điện, rồi đến ông Khoa, một người cho Tính thấy những gì u ám, và một người cho Tính thấy những gì quang minh. Thế nhưng, Tính đã không chọn lấy cái nhìn thiện cảm đối với ông Khoa, Tính chọn cái nhìn về phía ông Điện, cái nhìn đáp ứng bản mệnh của Tính, và do đó niềm tin mà Tính tạo ra đối với biểu tượng quang minh - chiếc thánh giá - là hoàn toàn phờ phạc. “Tính cười khoái trá, khụy đầu gối, mặt gục lên chiếc vại đựng nước.” Cái thứ bản mệnh dị chủng đó đã được thỏa mãn trong sự sung sướng, ở vào sự cáo chung của chính mình.

c. Nỗ lực để hiện tồn đúng nghĩa hay là sự nhạt nhẽo trong niêm kết (adherent) tinh thần

Tha nhân u uẩn, ở đây, không phải tha nhân trong con mắt của Sartre, tha nhân là địa ngục. Mà tha nhân là người khác, một sự tự phân thân của chính con người Tính, nó vong thân theo kiểu Hegel. Con người Tính khước từ chính bản thân hắn để hướng đến một thứ tồn tại không phải là con người hắn như hắn đã có đó. Nỗ lực để hiện tồn đúng nghĩa không có trong ý nghĩ của Tính, hắn đã bị tha hóa, đã bị chính hắn tha hóa vì bản thân không tìm đến một lý tưởng. Như đã nói, sức mạnh nội lực bên trong con người Tính không đủ để có thể tạo nên một sự tồn tại đúng nghĩa con người. “Chạy trốn trước hăm dọa của sợ, người ta sẽ bị đời thôi miên và do đó từ bỏ mình, mất hết tinh thần tự chủ và không còn làm chủ được hoàn cảnh.”[5] Bởi cội nguồn sâu xa là sự buông lỏng đối với mối liên kết tinh thần trong con người Tính. Một sự tự tạo để hình thành nên những thước đo cho lý tưởng đã bị quẳng ném đi. Đó không phải là một sự dính chặt (niêm kết) mà đó là một sự rời rạc đến tột độ những bấn loạn để hiện tồn theo cách mà Tính đã chọn lấy. Một sự lạc lõng trong tinh thần và đó cũng chính là thực tế của một sự lạc loài của Tính. Bản thân Tính đi trên con đường mà chẳng có ai là khách bộ hành trong cùng một chuyến đi. Chuyến đi ấy đầy bất trắc và trở ngại, chuyến đi ấy chỉ dành cho những ai bị lưu đày.

d. Lựa chọn để trở thành con người hay là chấp nhận bi kịch của chính nó

Một sự tự đào thải được diễn ra như một sắp đặt không thể nào khác đi. Một sự kết thúc của những điểu u uẩn, một sự an bài cho sự tự đào thải đã cố gắng làm như thế trước mọi nỗ lực để được xem là con người đúng nghĩa. Cái chết của Tính là một sự phơi bày đa đoan của quần sinh (humanity). Mà đa đoan là bi kịch, không thể khác đi trong một truy tìm đến với bi kịch để tự đào thải ra khỏi cuộc đời. Cái chết của Tính không cho phép ta nhìn nhận về Tính như là một cái chết của sự chấm dứt hiện sinh. Vì cái Dasein của Tính đã chìm đắm trong dị dạng từ rất lâu rồi. Chết không là một sự lìa đời đúng nghĩa mà đó đơn giản chỉ là một bi kịch. Bi kịch đó chỉ dành cho những kẻ bị ghẻ lạnh, và kẻ đó không riêng gì Tính, mà còn có cả Hưng nữa. Dường như sự lựa chọn để được là con người chính là cái chết. Chết mới chấm dứt mọi cơ năng hư đốn do chính bản thân mình tạo tác nên mà thôi. Cái chết mới giúp cho Tính đánh đổi lại được một giá trị của hai chữ con người. Đó là cố gắng để Tính có thể làm được khi muốn trở về với chính con người của mình. Một sự đa đoan thừa thãi của kiếp người. Nó không thiếu ở trường hợp của Tính mà nó đầy rẫy giữa thế gian. Sự đa đoan đó rất đơn giản với một luật chơi vô đối, chấp nhận sự tự đào thải của cá nhân anh, có như thế anh mới hoàn thành trọn vẹn được trò chơi này, và cái phần thưởng mà anh nhận lấy không gì khác đi là một sự tìm lại đúng nghĩa với bản chất của anh. Liệu rằng hơi ấm từ máu của Tính có giúp Tính thức tỉnh được không? Chúng ta không thể biết được điều này một cách rành rọt vì Tính đã chết. Nhưng trước khi chết Tính đã nở nụ cười khoái trá. Nụ cười được chia sẻ cho cả hai. Cho cái thứ bản mệnh dị chủng của chính mình và cũng là cho cái phần thưởng xứng đáng của trò chơi mà Tính đã tham gia. Tham gia để nhận lấy bi kịch, để không còn nữa, mãi mãi xa lìa; nhưng cốt yếu là để tìm lại được những gì mình đã không bao giờ được chạm đến nó. Tính gục xuống và một sự tự đào thải bi kịch cứ thế cũng kết thúc trong não nề.

4. Thoạt kỳ thủy là gì? - Đường về cái tôi như là tiếng kêu lạc lõng giữa một hư vô bất tận

Đi tìm câu trả lời cho câu hỏi này chính là chỉ ra được bản chất ý nghĩa mà tác phẩm chứa đựng. Thoạt kỳ thủy, ta có thể hiểu đó là thời kỳ hồng hoang của loài người, thời kỳ man di và mông muội của quần sinh. Hay chăng, ta có thể hiểu thoạt kỳ thủy là một trạng huống của tinh thần con người, nó chẳng khác gì so với một sự thao túng của vô thức lên trên đời sống tinh thần của con người cả. Ở trường hợp trước, thoạt kỳ thủy được nhìn về trong vị thế của một danh từ, và ở trường hợp thứ hai, thoạt kỳ thủy được nhìn về trong vị thế của một tính từ. Tuy nhiên, để cố gắng gạn lọc ra được ý nghĩa của tác phẩm, thiển nghĩ, chúng ta cũng nên cần có một sự nhìn về bản chất của câu hỏi thoạt kỳ thủy là gì trong vị thế của nó là một động từ.

a. Nẻo đường heo hút của Dasein (hiện thể) hay là hành trình phiêu bạt về lại với cái tôi

Một sự cộng sinh với đời bất khả thành. Trong sự neo đậu của Dasein trên cõi đời, con người thực hiện một sự dấn thân. Và sự dấn thân đó, khi hiện thể còn mù lòa trước những chốn neo đậu, nó trở nên lênh đênh hơn trong sự nhập cuộc với số phận ấy. Thoạt kỳ thủy là hành trình phiêu bạt về lại với cái tôi khi đường đi của Dasein trở nên heo hút như thế. Sự bán thân vào lầu xanh ma mị đã cướp đi một nội tại bị rửa trôi những bản chất cao thượng vốn thuộc về con người, được xem là điển hình của hiện thể. Thoạt kỳ thủy đưa đẩy Tính như một nạn nhân bị cầm tù ở trong đó. Một sự trơ trọi chua cay giữa quần sinh. Hành trình cứ kéo dài để bản thân Tính cứ thế đi mãi, và dẫu cho hắn có chạy thật nhanh cũng không bao giờ đi hết nẻo đường ấy. Cái xoáy nước đã làm con cú dồn hết sức lực để không bị rơi tõm vào trong đó. Cuối truyện, là hai sự kiện trái ngược nhau. Tính chết, còn con cú thì đập cánh và bay “chẳng cần biết tới phương nào.” Bản thân con cú lúc này như là một sự cố gắng về lại với cái tôi của Tính thể hiện dưới dạng âm bản. Nó bay đi và mang theo một dấu ấn về cái thứ âm bản mà nó đã được đặt như một đối cực với Tính. Thoạt kỳ thủy cũng chính vì thế mà đã được vọng lên từ chính cái đập cánh ấy của con cú. “Bay, cứ bay, miễn là bay.” Nhưng hy vọng đường bay của nó sẽ đến nơi mà nó neo đậu được an toàn, cũng như thể nó sẽ nguôi ngoai đi từ tiếng cười đó của Tính, một phần nào đó trong tiếng cười khoái trá ấy là hiện thân cho sự phiêu bạt về với chính mình, nó đau đớn biết chừng nào!

b. Vết nứt muôn đời của bản mệnh (subsistence) hay là một sự phù phiếm trong hoang đàng (mythical)

Chính cái thứ bản mệnh dị chủng đó chứ không phải là cái thứ bản mệnh nguyên ủy của con người mình đã khiến Tính rơi vào màn sương mờ lòa trắng đục trong những giấc mơ của hắn. Thứ bản mệnh ấy đã tạo nên một vết nứt không sao hàn gắn được đối với cuộc đời của Tính. Nó nứt ra và một sự phù phiếm trong hoang đàng ập đến, Tính lặn ngụp trong đó. Thoạt kỳ thủy chính là sự nứt ra của cái thứ bản mệnh dị chủng như thế. Vết nứt muôn đời ấy đã tự sắp đặt cho một định mệnh gắn kết với hư tưởng. Con dao chọc tiết lợn xuất hiện trong những giấc mơ của Tính là hiện thân cho chính cái thứ bản mệnh bệnh hoạn ấy đang chuẩn bị chuyển hóa thành cơ năng hư đốn của chính con người Tính. Một sự hành động ngoan ngoãn, luôn nghe theo lời chỉ bảo của cái thứ bản mệnh dị chủng đó, nó là vết nứt sâu thăm thẳm của cõi đời. “Biểu tượng được tạo nên trong sự tưởng tượng khả kiến của thần thoại và trong những tư biện theo quan niệm.”[6] Sự phù phiếm đấy lại là một vết nứt, và đồng thời, thoạt kỳ thủy lại chính là sự nứt ra đó của cái thứ bản mệnh như thế. “Con dao chuyển màu trắng đục.” Đó chính là sự lưu chuyển đến hồi đỉnh điểm của cái thứ bản mệnh trong con người Tính, hoang đàng dàn trải trong cả giấc mộng cũng như bên ngoài đời thực của chính hắn. Một chốn ải hoang đàng nhẫn tâm, âu cũng là do chính cái vết nứt khốn nạn đó gây ra.

c. Tục lụy (mundane) của nhân gian hay là sự thẩm thấu (osmose) huyễn mộng (phantasmal) của cõi người

Một cách thế vào đời của mỗi người khi từ cái thuở đầu tiên của chính hắn lại là một sự nhập cuộc sơ khởi của thẩm thấu huyễn mộng. Nó như một sự chuyển mạch từ nơi mà nó thoát ra khỏi cái bào thai và có mặt ở đời. Có cái huyễn mộng ấy như thể nhắc nhở bản thân mỗi người không bao giờ quên đi cái cội nguồn phảng phất huyền thoại đấy của hắn. Rồi huyễn mộng không vì thế mà dừng lại, nó bung tỏa đi hết cả cuộc đời. Huyễn mộng ấy đau đáu hơn khi nhận ra nhân gian này là một xứ sở của tục lụy không hơn không kém. “Thấy mình không biết từ đâu tới và sẽ đi về đâu, chỉ biết rằng mình tại thế, mình bị ném vào một thế giới xa lạ, phi ngã, trong đó mình không có sự chống đỡ và nền tảng nào khác ngoài chính hoàn cảnh mình sống, người không khỏi đồng thời cảm thấy mình cô đơn, ghẻ lạnh. Đó là ý nghĩa thứ nhất của ruồng bỏ.”[7] Vì cái cảm giác ruồng bỏ đó luôn thường trực bên trong mình mà con người đã neo thắt vào cái huyễn mộng ấy. Cái huyễn mộng của đường lối hướng về với mong muốn kiếm tìm một nền tảng. Trong truyện, oái oăm thay, Tính lại bị chính cái huyễn mộng đó thôi miên đi. Và sự thôi miên đấy lại dai dẳng trong suốt cả một phần đời của Tính. Tục lụy của nhân gian không chỉ thấy Tính như một thằng điên, một đứa bị tâm thần, dở hơi mà hơn nữa nó lại như một cái shadow chùng chình trên thân phận của hắn. Thoạt kỳ thủy có chăng cũng chính lại là sự thẩm thấu không cùng ấy.

d. Hiện sinh nhân bản trong lay lắt cõi đời hay là dòng chảy hoang vu của thoạt kỳ thủy

Đến đây, thoạt kỳ thủy đã nghiễm nhiên hoàn tất lộ trình của chính nó. Quanh đi quẩn lại, trên đường về với cái tôi, dòng chảy hoang vu của thoạt kỳ thủy đã phủ lấp lên trên số phận của nhân vật chính trong truyện - Tính. Dòng chảy đó mang theo dấu ấn của một sự cắt đứt dứt khoát với chính con người của mình, để rồi cất bước đi về và tìm lại cái bản ngã đấy là một sự hoài công vô ích. Thoạt kỳ thủy được nhìn về trong ý nghĩa của một động từ nhưng không vì thế mà nội hàm của cả hai ý nghĩa trong cách nhìn về nó mang nghĩa của danh từ và tính từ lại bị bỏ quên đi. Cả hai cách nhìn đấy đã bổ túc cho chính cái nhìn chủ đạo về thoạt kỳ thủy được hiểu như là một động từ. Nhưng trên hết chính cái dòng chảy hoang vu của thoạt kỳ thủy trong một sự bất tận để về với cái tôi, về với những gì vốn sinh ra, nó đã thuộc về mình. Để rồi, “chúng ta không ngừng thiên di đến những cảnh giới xa lạ và chúng ta cũng không ngừng quay về với những lối cũ đường xưa.”[8] Nhưng dù là đi đến đâu chăng nữa chúng ta cũng không thể xa lìa khỏi sự có mặt của mình trong cõi đời lay lắt của chính mình. Đối với Tính, dòng chảy hoang vu của thoạt kỳ thủy đã chảy qua cả cuộc đời của hắn và cuối cùng hòa quyện với chính “dòng máu đang tràn theo hàng khuy áo” của Tính. Chỉ với một lý do đơn giản, Tính là một kẻ lưu vong lạc loài đến kiệt cùng như thế.

Thoạt kỳ thủy vẽ ra một kết cục từ sự xa lìa nhân chủng (human nature) của quần sinh (humanity). Nó giúp ta nhận ra chốn ải thâm u đó của cõi đời. Quang đãng như là điểm đến khi ta lên đường giải mã tác phẩm, ngang đây, đã hiển lộ ra. Đó là một sự đối chiếu về lại với chính bản thân của chúng ta, một sự phản tỉnh của chúng ta trước những rắp tâm u ám trỗi lên từ uẩn khúc bên trong con người mình và kể cả những gì mà người khác đem đến cho chúng ta. Để cho mỗi người không bị lọt thỏm vào trong những hố đen diệu nghệ của một sự lừa phỉnh đến tinh ranh như thế. Thoạt kỳ thủy là một hành trình của sự đày đọa, nhưng nó cũng có thể lại là một hành trình để thức tỉnh những con người, những thân phận rẻ rúng tránh sa vào chốn ải hoang vu bất tận của nhân quần (mankind).

Huế, 29/07/14
Phạm Tấn Xuân Cao (Theo Sông Hương 307/09-14)

---------------------
1. Nguyễn Bình Phương (2004), Thoạt kỳ thủy, Hà Nội: Nxb. Hội Nhà Văn. Mọi trích dẫn trong bài viết, nếu không đánh chú thích thì đều được trích ra từ tác phẩm này.
2. Trần Nhựt Tân (2006), Tâm lý học, Hà Nội: Nxb. Lao Động, tr 80.
3. Remo Bodei (2011), Triết học thế kỷ XX, Phan Quang Định biên dịch, Hà Nội: Nxb. Thời Đại, trang 208.
4. Lê Thành Trị (1974), Hiện tượng luận về hiện sinh, Sài Gòn: Trung tâm Học liệu, trang 356.
5. Lê Thành Trị, sđd, trang 356.
6. Jaspers K. (2008), Chân lý và Biểu tượng, Tuệ Hạnh dịch, Tp. Hồ Chí Minh: Nxb. Phương Đông, trang 79.
7. Lê Thành Trị, sđd, trang 351.
8. Remo Bodei, sđd, trang 206.

Đọc lại Trương Chi của Nguyễn Huy Thiệp

Bài viết này được viết lại từ một bài viết cũ dang dở, nhan đề Trương Chi của Nguyễn Huy Thiệp – bi kịch của kẻ tách khỏi bầy hay nỗi cô đơn muôn kiếp của con người. Trong đó người viết muốn khẳng định Trương Chi là một tác phẩm viết về cái cô đơn. Với rất nhiều nhiệt tình cộng với không ít nông nổi và cảm tính, người viết lúc đó muốn dõng dạc “tuyên bố” điều (mà hình như, không phải là phát hiện đối với tác phẩm này): Cô đơn là một định mệnh không thể tránh khỏi. Bởi thế, dù ngay khi vẫn còn luẩn quẩn ở khúc đầu và loay hoay triển khai phần nội dung, một kết luận khá ồn ào nhưng thật sự tâm đắc, trau chuốt và nóng hổi từng chữ, bấp chấp một khoảng không trắng xóa của “thân bài”, đã nằm ung dung, kiêu hãnh ở cuối trang giấy viết vội: “kết thúc như một cô đơn tuyệt đối của Trương Chi phải chăng là cái giá của tồn tại, của lựa chọn tách khỏi bầy. Hay, cái giá của việc dám xem thường những giá trị mà cuộc đời luôn kiên quyết từ chối những cánh tay e dè “xin được có ý kiến” về chúng, bởi người ta mặc nhiên cho rằng, giá trị là những chuẩn mực không cần bàn lại, không thể bàn thêm. Nhưng, không chỉ vậy. Hãy lưu ý đến tư thế sống của chàng Trương. Tư thế của kẻ luôn sống một mình. Ngày, một mình. Đêm, một mình. Sống trong bầy, một mình. Tách khỏi bầy, một mình. Không thay đổi. Như thế, cái cô đơn ấy không đơn giản là một trả giá, mà nó còn là bản thân của tồn tại. Mỗi tồn tại luôn là một cái gì đơn nhất, cô độc, riêng lẻ. Tức, một cô đơn mang tính bản thể”.

Một lần gặp lại...
            Nhưng lúc đó bài viết chỉ dừng ở đấy. Bởi khi ấy người viết lạc lối và mắc kẹt giữa những khúc quanh, những ngóc ngách của truyện, ở chính cảm nhận và ngộ nhận của mình. Thêm nữa, vì chưa tìm được một góc nhìn hợp lí để soi chiếu tác phẩm, nên những nhận định phần nhiều vụn vặt, võ đoán và chênh vênh. Bài viết, do đó, dang dở với lời kết như đã trình bày cùng một phần mở đầu thống thiết, và phần nội dung èo uột. Lúc đó, nó hoàn toàn hết hy vọng và được xếp vào một góc. Cho đến khi đọc lại một bài viết, cũng rất cũ, của tác giả Nguyễn Thị Từ Huy, Ý thức cộng đồng và số phận cá nhân (nhìn lại bi kịch của Chí Phèo)(1), người viết mới tìm được cho mình rất nhiều gợi ý để nghĩ tiếp, kết nối và hoàn thiện những ý tưởng dang dở trước đây.

Ở bài viết này Chí Phèo được nhìn lại trong quan hệ giữa ý thức cộng đồng và số phận cá nhân. Dưới cái nhìn ấy, bi kịch Chí Phèo và những nhân vật đồng dạng với Chí trong “thế giới Nam Cao”, thực chất là “bi kịch về sự yếu đuối của cá nhân trước sức mạnh của ý thức cộng đồng”(2). Bởi thế, cái chết mà họ chọn lấy như giá đắt nhất, để giành lại hay để chứng minh một cái gì đó ngoài tầm với, không còn được hoàn toàn nhìn nhận như một hành động can đảm, quyết liệt, hay một nỗ lực tuyệt vọng của những thân phận dưới đáy mà phần nhiều bị xem như sự bất lực và khiếp phục của cá nhân trước uy quyền của đám đông cộng đồng. Và nó, cái chết ấy, là bằng chứng cho nỗi sợ hãi cô đơn, là kết cục của cuộc đời mong cầu giá trị, hạnh phúc, và bình yên của cá nhân ở sự xác nhận, cho phép, từ phía đám đông tập thể.

            Tiếp tục truy vấn các vấn đề được đặt ra từ bài viết của tác giả Nguyễn Thị Từ Huy, người viết nhận thấy hai điểm rất đáng lưu tâm sau đây, thứ nhất: Trong kinh nghiệm sống của người nông dân Việt Nam, và nói rộng ra là của cả người Việt, cô đơn vốn không có một vị thế đáng kể (không có một vị thế đáng kể xét ở hai khía cạnh, một: nó không có nhiều cơ hội để xuất hiện, bởi “truyền thống sống gắn bó khăng khít với các cộng đồng lớn nhỏ xung quanh họ”(3), hai: nó chưa bao giờ được coi trọng, được cổ vũ như một tâm thế sống cần thiết và quan trọng với mỗi cá nhân, để trưởng thành, để sống có bản lĩnh). Các nhân vật cô đơn trong đời sống cộng đồng hình như từ xưa đến nay thường là do sự gằn hắt của cộng đồng, bị xa lánh, bị đẩy ra ngoài lề chứ không có mấy kẻ đủ gan tự li khai khỏi làng xã, thị tộc để đi con đường của riêng mình, để sống một mình. Có nghĩa, cái cô đơn ấy là một trừng phạt chứ hoàn toàn không phải là một lựa chọn, một khước từ, một thách đố. Thứ hai, do đặc điểm ấy của đời sống văn hóa – tinh thần của người Việt, nên khi đánh giá sự trưởng thành của ý thức cá nhân, của một nhân cách tự chủ, người ta không chỉ tính đến các biểu hiện, như: thái độ tự coi trọng mình như một giá trị, tự chủ lựa chọn con đường của mình để bảo vệ cũng như tôn xưng giá trị ấy, mà còn phải xét đến tư thế và cách ứng xử, trong và với cái cô đơn của cá nhân đó.

Đọc lại từ những đổi thay
            Từ những thay đổi trong nhìn nhận đó, truyện ngắn này được đọc lại trên một tinh thần khác. Trước hết, có thể thấy, nếu coi Chí Phèo của Nam Cao là câu chuyện về mối quan hệ giữa ý thức cộng đồng và số phận cá nhân, truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp ở góc độ nào đó là một tiếp nối của cái xung đột thầm lặng mà tàn khốc ấy. Nhưng, ở tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, đã có rất nhiều thay đổi. Bởi, lúc này cá nhân đã là một nhân cách tự chủ, dám “có ý kiến”, dám lựa chọn, và quan trọng dám cô đơn. Cái đổi thay đáng kể trong ý thức cá nhân và trong cách ứng xử với cô đơn của cá nhân dẫn đến một truy vấn khác: thời điểm mà người ta không đủ bản lĩnh để sống và đối diện với cộng đồng, người ta bị ý thức cộng đồng chế ngự, “nghiền nát” (chữ của tác giả Nguyễn Thị Từ Huy) và san phẳng, người ta tự đẩy mình vào bi kịch, vậy khi “dám” làm một cuộc nổi loạn với trật tự, với quán tính sống và với kinh nghiệm sống của cộng đồng, thì kẻ ấy sẽ có cái kiêu hùng như một kẻ đã nắm được “chân lý”? Bi kịch liệu có chấm dứt? Và nếu không (chỉ) để trả lời cho những câu hỏi ấy thì nỗi khắc khoải từ tác phẩm muốn hướng người đọc đến vấn đề nghiệm sinh nào? Bài viết cũ được viết lại trên chính băn khoăn về những câu hỏi mới này.
            Khi một người được sinh ra và sống trong đời sống, dù anh ta là ai, anh ta sống ra sao, thì ngay từ đầu, khi bắt đầu sống với tư cách một cá nhân là anh ta phải lựa chọn một lối để bước vào đời sống và để sống cuộc đời của mình. Có mấy con đường để sống? Có thể xem lời đề dẫn của The Tree of Life* như một gợi ý: “...there are two ways through life, the way of nature and the way of grace”. (...có hai cách để sống, cách sống “nature” và cách sống “grace”). “Grace doesn’t try to please itself. Accepts being slighted, forgotten, disliked. Accepts insults and injuries” (cách sống “grace” là cách không cố làm theo ý mình, làm hài lòng bản thân. (Nó) chấp nhận bị coi thường, bị quên lãng, bị ghét bỏ, chấp nhận sự lăng mạ và tổn thương). Hiểu như trên, thì “grace” vừa có nghĩa “politeness” (lịch thiệp) và vừa có nghĩa “approval” (chấp thuận). Nếu cần chuyển nghĩa “grace” sang tiếng Việt, có lẽ từ “khoan hòa” (với hai thành tố, “khoan”: rộng rãi và “hòa”: vừa phải, đều, không tranh chấp, không xích mích) là một từ chuyển nghĩa phần nào mang chứa được nội dung của nó. Vậy với ý nghĩa đó, sống theo cách “grace” là cách sống lịch sự, tử tế, nhũn nhặn, chấp nhận thua thiệt, chấp thuận cả những những điều làm mình đau đớn, tổn thương. Do đó, tất nhiên, không đòi hỏi, không can dự, không gây hấn, đáng nói nữa, là không chủ đích và nỗ lực chứng minh sự hiện diện của mình. Cách sống “grace” (khoan hòa) ấy là một đối cực với cách sống “nature” (cách sống chỉ muốn làm theo ý mình, làm kẻ khác phải thỏa mãn mình) – “nature only wants to please itself, get others to please it too ” – cách sống “tự nhiên”, “bản thể”.

            Với Trương Chi, cách sống của chàng, lúc đầu, có một diện mạo rất gần với cách sống “grace” – cách sống khoan hòa, “Chàng cười nói. Chàng chịu đựng. Chàng mua bán. Chàng chấp nhận. Mọi ước lệ của thói đời lướt qua chàng không dấu vết. Chàng cũng lướt qua nó, những ước lệ của thói đời ấy không dấu vết”. Do vậy, dù không phải đã là một chân dung tốt đẹp, lịch sự, bóng bẩy của các quý ông thanh lịch nhất của “trường phái Grace”, Trương Chi cũng giữ được cho mình một hình dung khá dễ chịu, vô hại của một người “sống trong đời sống”, hay như ngôn ngữ của chính chàng bốn ngàn năm sau ngày gặp Mỵ Nương, là vẻ ngoài của kẻ “sống giữa bầy” –  “...chàng giữ được bên ngoài vẻ thường. Không ai ngờ vực chàng. Không ai sợ hãi chàng”.

            Chỉ có điều, cái cách sống dịu dàng, dễ thương ấy, xét về bản chất hoàn toàn không là một lựa chọn ý thức của Trương Chi, thêm nữa, ở đây hoàn toàn vắng mặt một Đức tin thần thánh, điều không thể thiếu trong hành trang của những người đi vào đời bằng lối sống này, bởi Đức tin là điểm tựa gần như duy nhất và tuyệt đối mà những người lựa chọn con đường sống khoan hòa vin vào để có thể sống kiên nhẫn với những tổn thương và đau đớn (nói như nhân vật trong The Tree of Life, “I will be true to you. Whatever comes” (con tin vào Người. Dù bất cứ điều gì xảy ra). Còn cách sống “khoan hòa” của Trương Chi, thay vào đó, là kết quả của nhiều nhân tố (giản dị, trần tục hơn, nhưng cũng tầm thường hơn rất nhiều): quán tính sống được “di truyền” từ đời này sang đời khác trong một cộng đồng ổn định và ngăn nắp, cùng “áp lực đám đông” nằm trong những luật lệ, quy ước, và những cấm đoán, kiêng kỵ, cuối cùng trong “việc tự khép kín, thói lười nhác an phận, thêm một chút khinh bạc nữa và những cố gắng không mệt mỏi để kiếm miếng ăn” của bản thân Trương Chi.

Là hợp chất của những yếu tố ấy, cách sống “grace”, khoan hòa của Trương Chi thực chất chỉ là một lối sống tự động (vì vận hành theo những thói quen, những “công ước” (chữ của Phạm Công Thiện) có sẵn; lười nhác (vì luôn chấp thuận mà không bao giờ thắc mắc, hoài nghi, phản biện, thậm chí phản kháng); và vô hình, vô bản sắc (vì luôn gật đầu mà không bao giờ thể hiện sự có mặt, sự hiện hữu của mình bằng những câu hỏi hay những ý kiến). Như một hệ quả, cái tồn tại, hay mượn chữ của Heidegger, cái hiện tồn (dasein) của Trương Chi lúc đó, chỉ là một vệt mờ xám đầy mơ hồ. Điều này vừa đáng buồn, vừa “phi lí” (như cách cảm thán của tác giả ở cuối truyện) bởi, đáng ra Trương Chi có thể sống sắc nét hơn thế rất nhiều. Vì chàng sở hữu một phương tiện tuyệt vời để dõng dạc ghi vào đời sự hiện hữu của mình, thậm chí để tồn tại giữa cuộc đời như một bản sắc, một giá trị, là giọng hát của chàng. Nhưng cũng có thể phản biện lại rằng, khi người ta chỉ tồn tại như một nhân ảnh, thì họ sẽ chưa ý thức được giá trị của bản thân, chưa biết trân trọng những giá trị của mình, tất nhiên chưa thể hình dung chính những giá trị ấy sẽ làm đầy bảng màu cuộc đời họ và làm ý nghĩa cho sự tồn tại của họ.

            Cuộc sống mơ ngủ của Trương Chi chỉ thực sự thay đổi sau khi gặp Mỵ Nương. Một cuộc gặp không hề êm đềm. Cuộc gặp gỡ ấy, không phải chỉ là cuộc chạm mặt của tình yêu, mà đúng hơn là lần đối mặt trực diện, đầu tiên và duy nhất của Trương Chi với những kẻ đại diện cho trật tự, lề thói. Lúc trước, Trương Chi luôn lảng tránh, để không phải can dự, phải thể hiện thái độ và phát biểu ý kiến về những trật tự và lề thói ấy. Đột nhiên, bị ném vào giữa một đám đông vương giả, quyền lực, chàng nghệ sĩ vốn chỉ biết cái rộng dài, trong sạch, hồn nhiên, hào phóng, hoang lộng của sông nước, mây trời, “được” ra lệnh, hát ca ngợi “công danh”, “sự nhẫn nhục”, “tiền bạc”, một nhúm những danh từ “béo bở” mà đám người kia vồ chụp lấy và thờ phụng như những chuẩn giá trị của cuộc sống bầy đàn. Với đòi hỏi ấy, chàng không thể dịu dàng “cười nói”, “chịu đựng”, “chấp thuận” như trước nữa – “Trương Chi tức nghẹn họng. Chàng biết, hát về điều ấy thật là trò cứt”, “Trương Chi luống cuống. Chàng thấy khổ quá. Giữa sông nước có ai chỉ bảo chàng đâu? Sự nhẫn nhục, thói hãnh tiến, lòng tham, tính thiện... Tất cả như nhau hết, vụn vặt và vô nghĩa lý. Chàng chỉ có một mình. Ngày cũng một mình. Đêm cũng một mình. Mưa nắng như nhau hết”.

            Lúc này cũng vậy, khi đối diện với tình yêu của mình, Trương Chi cũng chỉ có một mình. Vậy còn Mỵ Nương, nàng ở đâu giữa sự cô đơn của chàng. Nàng ở đó, dịu dàng, đài các, yêu kiều, nơi trang trọng, sạch sẽ và vương giả nhất giữa đám đông bầy đàn. Nhưng không phải với tư cách một người tình, mà “là cái bẫy của số phận chàng”. Nên nàng nguy hiểm và bất trắc hơn rất nhiều so với sự hăm dọa hung hăng của đám quan lại, đồng cô đang xúm vây quanh chàng. Chính cử chỉ mơn trớn “ngả người trên nệm... lấy những ngón tay thon thả gỡ tóc”, “nụ cười khuyến khích”, tiếng cười rung như ngọc, “vẻ xót thương”, “độ lượng” đã làm Trương Chi mềm lòng. Và chàng đã bán mình cho cái dịu dàng, dễ thương và độ lượng ấy. Trương Chi cắt hết những cánh thơ của tiếng hát chàng, đóng sập những khoảng trời lồng lộng gió và nắng, trói chặt những kiêu hãnh, ương bướng của lòng chàng để cho vừa cái khuôn của bài hát đông người. Kết quả của những “nỗ lực” ấy, tiếng hát chàng thành tiếng kêu ré qua cổ họng, trơn tuột, vô nghĩa, thậm chí còn bất lương: “Chàng khò khè trong cổ. Chưa bao giờ chàng hát một bài hát thô bỉ thế này. Bài hát chỉ toàn “ấy a” với lại “huầy dô”, “... lại một bài hát toàn “ấy a” với lại “huầy dô”. Có chỗ chàng lại bắt chước tiếng chó sủa, tiếng gà cục tác và tiếng dê kêu nữa”.

“Trả công” xứng đáng cho tiếng kêu ré bất lực, thảm hại của Trương Chi, “bọn hoạn quan cười ré lên: - Hát như cứt”. Nhưng thói bạc bẽo, nhẫn tâm ấy hoàn toàn không phải trải nghiệm mới mẻ với Trương Chi. Chàng không dành cho nó chút kinh ngạc nào. Mà chính bài hát đông người đã dạy chàng nhiều điều: Chàng sẽ đánh mất mình, đánh mất giọng hát và phẩm giá của mình nếu dùng nó theo ý muốn, mục đích của kẻ khác, dù kẻ đó là ai, đại diện cho điều gì; thêm nữa, mang giọng hát của mình để ve vuốt, xu phụng đám đông là một hành động không những phản nghệ thuật mà còn đớn hèn, bỉ ổi, đê tiện. Và bài hát ấy, đến lượt mình đã vẽ ra một cách chân xác chân dung của đám đông bầy đàn, một đám đông ồn ào, hỗn loạn, vô hình sắc. Thậm chí đám đông ấy còn không giữ nổi cho mình một gương mặt và giọng nói nhân sinh – người ta chỉ thấy có tiếng chó sủa, tiếng gà cục tác, tiếng dê kêu. Chân dung ấy cho người ta biết, khi sống trong bầy, sống theo bầy là người ta đã từ chối trở thành một diện mạo, một bản sắc riêng, người ta bị cái tập thể, cái cộng đồng lấn chiếm, xâm thực, rồi cuối cùng hòa thành một bầy vô danh tính. Tất cả những điều này mới là những kinh nghiệm mới mẻ đáng kể với Trương Chi, làm thay đổi con người chàng, cuộc đời chàng.

Nhờ nó, “việc gặp Mỵ Nương xốc lại toàn bộ suy nghĩ của chàng. Trước kia, Trương Chi chỉ hình dung mơ hồ có những cuộc sống khác, lối sống khác. Chàng chỉ ngờ ngợ rằng cuộc đời chàng tẻ nhạt, nhàm chán. Rằng thân phận chàng chẳng ra gì. Rằng con thuyền này, những vật dụng này chẳng ra gì. Rằng thân xác chàng xấu xí, chẳng ra gì. Cả ngay tiếng hát của chàng cũng thế, vô nghĩa, chẳng ra gì”. Giờ, mọi sự thay đổi. Không rụt rè với những “hình dung mơ hồ”, với những thoáng “ngờ ngợ”, không ỉ ôi, dằn dỗi, trách móc với điệp khúc “chẳng ra gì... chẳng ra gì... chẳng ra gì”, Trương Chi ném thẳng vào đời một xác quyết, thẳng băng, lạnh lùng, thậm chí “lỗ mãng”, “tục tĩu”, “nguyên chất vỉa hè” (chữ của Nguyễn Việt Hà): “chàng hiểu chắc chắn rằng cuộc sống của chàng thật là cứt, là cứt chó, không sao ngửi được. Không chỉ riêng chàng, mà cả bầy. Tất cả đều thối hoắc”. Không chỉ bụi bặm suông, mà nó mang đầy vẻ gây hấn, khiêu khích không thèm giấu giếm, che đậy. Trương Chi dễ chịu, dịu dàng, vô hại ngày trước, được gửi trả về quá khứ. Câu cửa miệng từ nay về sau của chàng là “cứt” – trực diện, gọn lỏn, trần trụi.
            Sự phản biện của Trương Chi với cái đám đông (bao gồm cả chàng, hoặc ít nhất, đã từng bao gồm cả chàng) hoàn toàn không phải phút say xỉn ngông nghênh của một gã chán đời. Ngược lại, nó là một bước ngoặt, một đổi thay căn bản. Khi chàng “chắc chắn rằng cuộc sống của chàng” và “cả bầy” đều là bỏ đi, vô nghĩa, thậm chí, chỉ là cặn bã, có nghĩa là ý thức về giá trị đã thức tỉnh trong chàng, câu hỏi về giá trị đang chất vấn, căn vặn chàng. Đồng thời, việc định giá cái “hiện tồn” của mình và của đám đông bằng một giọng điệu phủ nhận quyết liệt, một sự khinh rẻ đến đáy thực chất là một thái độ, một hành động khước từ, khước từ cách sống bầy đàn, khước từ cái cộng đồng tôn thờ lối sống bầy đàn ấy. Chỉ với hai điều đó thôi, đời Trương Chi đã thay đổi hoàn toàn: từ nay chàng không thể sống như xưa, nói cách khác, từ nay chàng không thể “sống giữa bầy”, không thể trở lại bầy được nữa. Nhưng “không thể” ở đây không phải là tình thế “bị ngăn cấm”, mà là trạng thái “tự ngăn cấm” ý thức và tự chủ.

            Khi không thể chui vào cái vỏ “khoan hòa” để sống yên ổn và an toàn như trước, khi phải một mình đối diện với bầy, Trương Chi chỉ có thể dựa vào một điểm tựa cuối cùng, niềm thiêng liêng duy nhất – tình yêu, “chỉ bằng tình yêu của chàng, tình yêu chân thực và nồng cháy của chàng mới hòng cứu vớt được”. Tình yêu này “không phải là Mỵ Nương, không chỉ là Mỵ Nương. Dù cho Mỵ Nương có là một con phượng hoàng kiêu hãnh hoặc một con nhện xấu xí cũng vậy. Với chàng lúc này tất cả đều như nhau. Tình yêu của chàng hướng về tuyệt đối”. Tình yêu tuyệt đối là thứ duy mỹ nguy hiểm cho trật tự bầy đàn vì nó đòi hỏi Tự do tuyệt đối, cái Đẹp tuyệt đối, nó phiêu lưu, chông chênh, không giới hạn, không ràng buộc bởi “những định kiến vướng bận cồng kềnh”(4). Tình yêu ấy là ngọn gió trời, “tử tế, cao thượng, độ lượng, bao dung mà bình ổn”(5). Ngọn gió hào hiệp tiếp cho tiếng hát chàng nguồn năng lượng bất tận, để phá bung những thành trì níu giữ, tung mình lên không, trải rộng đôi cánh đến vô cùng, và cất vang lời ca tự do giữa đất trời hoang lộng.
“Tình yêu, bài ca mà Trương Chi hát
Cất lên từ trái tim bị thương tổn
Ngọn cờ nàng phất trên ta là tình yêu
Và tiếng trống trận là nhịp tim ta”
Bài hát mà Trương Chi hát là một xác quyết tồn tại, một tuyên cáo cho sự có mặt, hiện hữu của Trương Chi, của tiếng hát chàng, của bài ca chàng hát, của tình yêu nguyên sơ, bất tử, tuyệt đối, chân thực, hồn nhiên, trinh bạch như sự sống:
“Ta là Trương Chi
Ta ca ngợi tình yêu
Nở từ hạt thiện
Và bông hoa của tự nhiên
Là sự chân thực lạnh buốt...

...Ta là Trương Chi
Ta hát cho tình yêu
Vẻ đẹp tự nhiên
Sự chân thực lạnh buốt...

...Ta là Trương Chi
Ta hát cho tình yêu
Đây là thanh danh ta
Và thanh danh nàng..

...Ta là Trương Chi
Ta hát cho tình yêu
Tình yêu không xúc phạm được
Bởi nó kiêu hãnh và tinh tế...

... Ta là Trương Chi
Ta hát cho tình yêu
Tình yêu cần hy sinh
Bởi nó không khoan nhượng
Sự ngu ngốc hay khôn ngoan với tình yêu đều như nhau
Sự ràng buộc hay không ràng buộc cũng thế
Tình yêu không mất đi và không sinh ra
Tình yêu tuyệt đối...”

Bài ca chàng hát là lời xưng tụng về cái Đẹp tuyệt đối – cái đẹp tự nhiên, duy mỹ. Cái Đẹp tuyệt đối ấy, bản thân nó, mang chứa một đạo đức, đạo đức duy mỹ, thứ đạo đức “chất chứa nguy hiểm, chất chứa phiêu lưu nhưng nó sâu sắc, không bịp bợm”(6). Là những “hạt thiện” bé nhỏ, tinh khôi như sương, như cỏ, nhưng “giá trị gấp triệu lần thứ đạo đức duy lý trắng trợn của trật tự bầy đoàn”(7) – thứ đạo đức đã bị đóng gói, ướp lạnh bởi cái nhìn duy lý, và bị chiết xuất thành đủ kiểu loại “tính này”, “tính kia”. Đạo đức của tình yêu, của những hạt thiện bé nhỏ (nhưng là chân nguyên) của nhân tính, nhắc người ta:
“Hãy ca hát tình yêu
Hỡi những trái tim lãnh cảm
Những trái tim sắt đá
Bạo lực chỉ gây oán thù
Nòi giống phải trả giá.”

Bài hát Trương Chi còn gửi cho nàng, Mỵ Nương, người tình trần thế, “cái bẫy của số phận chàng”. Có điều, nó không phải bài hát gửi “người tình lỡ”, như chàng Trương Chi dân gian đã nghẹn ngào phút cuối đời (Kiếp này đã dở dang nhau/ Thì xin kiếp khác duyên sau lại lành), cũng không phải bài hát hờn trách gửi “người tình phụ” như Trương Chi của Văn Cao sau này (...đàn đêm thâu trách ai khinh nghèo quên nhau), mà là bài hát gửi “người tình trong bầy”.
Đêm nay là đêm nao
Này người tình ơi
Rồi nàng cũng thành một bà lão lụ khụ, đáng kính và cô đơn thôi
Bây giờ nàng cứ cười đi
Ta đâu mếch lòng
Nàng còn trẻ tuổi
Nàng làm sao hiểu
Những khao khát nực cười của ta
Không ngọt ngào, say đắm, ngược lại, lạnh lùng, thậm chí “trịnh thượng”, lời hát Trương Chi cho người ta một hình dung về chân dung điển hình của kẻ sống giữa bầy: Vẻ ngoài chừng mực, đức hạnh, độ lượng, cùng một tâm hồn ngăn nắp, hoàn toàn vừa khít với cái rọ khuôn khổ của cuộc sống trong bầy. Nàng sống cuộc đời mình trong trật tự, được nuôi dưỡng bằng những chuẩn mực của bầy đàn, để cuối cùng trở thành chính chuẩn mực ấy. Tương lai của nàng, vì thế, cũng sạch sẽ, yên ổn, trơn tru. Dân gian kể về đời nàng: “Mỵ Nương sống suốt đời sung sướng và hạnh phúc”. Nhưng dưới con mắt của kẻ “ngoài lề” thì cuộc đời ấy thật bi kịch và hài hước. Bởi rốt cục, trong kiếp sống của mình người ta chỉ sống rặt với (và bằng) những khái niệm chết cứng, và kết cục, người ta cũng chỉ gặt về cho mình một nhúm ngôn từ cọc cạch, lủng củng, khập khiễng – “lụ khụ”, “đáng kính”, “cô đơn”. Một cuộc đời như thế, khi rửa trôi hết mọi mỹ từ hư ngụy, còn lại gì?
“Thực ra, nàng còn rỗng tuếch và tẻ nhạt
Tâm hồn nàng có những con rắn hoài nghi trơn tuột nằm phục
Nàng gian lận trong bài bạc
Nàng đánh giá điều thiện như cách nàng đánh giá đồ trang sức và tài sản
Nàng ngờ vực ngọn gió
Và gieo gặt nhờ kích thích thói xấu
Mồi thính của nàng
Là quyền lợi và danh dự hão huyền”
            Bức “tình thư” này đã hoàn thành trọn vẹn cuộc tổng phản biện của Trương Chi với cuộc sống của trật tự bầy đàn, với tư cách của kẻ đã tách khỏi bầy, vĩnh viễn. Vậy, cuối cùng thậm chí đến cả tình yêu của đời mình cũng thuộc về “phía bên kia”, Trương Chi còn cầm nắm được gì trong tay? Chàng sở hữu được, duy nhất, hai thứ: nỗi buồn và niềm cô đơn tuyệt đối. Chỉ, hai thứ đó, gắn bó với chàng. Khăng khít như định mệnh. Điều này là một tất nhiên. Bởi khuôn khổ của trật tự bầy đàn làm gì có chỗ cho chàng, nó biết lấy gì để dung chứa cho tiếng hát chàng, tình yêu tuyệt đối của chàng. Nơi đây, những khung cửa quá chật, ngay cả tầng trời cũng quá thấp, tiếng hát chàng biết cất cánh ở khoảng không nào. Và những tâm hồn thì quá hẹp, lại chứa đầy những điều “rất thực”, làm sao đủ ảo tưởng, đủ mơ mộng để “bận tâm” đến “nắm gió” chàng “ném vào khoảng không kia... dạt đến chân trời nào?...Gió đi đâu? Đến bao giờ thành bão?”; cũng sẽ không đủ nhạy cảm, đủ “bao dung” để hiểu những “những ước mơ say đắm khôn nguôi”, “những khát khao”, “những cuồng vọng”, “những tín ngưỡng” của chàng.

            Chàng không còn thuộc về nơi đây nữa, chàng đã là cánh diều bay lên cùng tình yêu tuyệt đối của mình. Thì cũng như cánh diều kia thôi, khi đã “lên được độ cao tuyệt đích”, “nó nghiêng một cái như để khinh bỉ mặt đất, hay để chào mặt đất, rồi đứng im thổi sáo một mình”(8). Đứng im thổi sáo một mình là quà tặng (cho), cũng là số phận (của) những con diều “dám chao lượn tự do... giữa chông chênh trong xanh”(9). Chàng cũng vậy. Số phận chàng là ca hát một mình giữa “sông nước trắng xóa một màu, trời mây trắng xóa một màu”, là cùng với “con thuyền này” một mình “chèo qua số phận”, “chèo qua thời gian” trong một nỗi buồn “da diết choán ngợp lòng chàng”, “như cục đá đè nặng tim chàng”.

            Cái thế tồn tại như “một ngọn gió”, hay như “một hành tinh” ấy, hoàn toàn không phải tư thế ngất ngưởng, ung dung, kiêu ngạo của kẻ chiến thắng, của kẻ nắm được chân lý. Ngược lại, nó nhiều đau đớn, u hoài, có lẽ nhiều hơn cả những ngày chàng sống cuộc sống bạc bẽo trong bầy. Chàng đã sống bốn ngàn năm “mất ngủ”, “đau đớn”, “căm giận”. Và, sống một mình. Dù giữa khoảng không trắng xóa một màu, hay “bóng tối mịt mùng”, thì quanh chàng chỉ có “sự vắng lặng”, “sự vắng lặng kinh hoàng”, “không ai đáp lại chàng”, “chỉ có tiếng giun dế, tiếng ễnh ương, tiếng chó sủa”. Bốn ngàn năm ấy có lẽ Trương Chi đã sống tận cùng với cái tồn tại hư vô của mình. Cái tồn tại mà đến nỗi đau của tâm hồn và nỗi đau của thể xác đều không màu, đều lặn vào hư không: “Trương Chi úp mặt vào hai bàn tay chai sạn. Chàng khóc. Không có nước mắt. Chàng cắn vào ngón tay. Một đốt ngón tay đứt trong miệng chàng. Chàng nhổ ngón tay xuống sông. Trời tối, không thấy máu”. Kết cục, như để đẩy tồn tại của mình thành một hư vô trọn vẹn, tuyệt đối, Trương Chi thả mình vào xoáy nước giữa dòng sông, cái hốc đen bí mật của tự nhiên. Đó là cái chết hay bất tử, là trở về hay tan biến? Câu trả lời vĩnh viễn là một bí mật.

            Cuối cùng, người ta không tìm thấy bóng dáng vòng nguyệt quế vinh quang, và  nụ cười ngạo nghễ của kẻ đã “li khai” thành công khỏi cuộc sống bầy đàn. Người ta hiểu trong cuộc đối đầu giữa ý thức cá nhân và quán tính sống của cộng đồng, sẽ không có danh hiệu anh hùng nào được phong. Bởi chẳng có một trật tự nào lại đi trao huân chương cho kẻ “phiến loạn” chống đối nó. Đồng thời, cả những đồng loại của họ nữa, những kẻ đang yên ổn với cuộc sống bầy đàn của mình, cũng sẽ chẳng dành cho họ chút thán phục, hay thiện cảm nhỏ nhoi nào đâu, trong mắt những người ấy, họ chỉ là những kẻ “phá đám” khùng điên, không hơn. Do đó, chiến thắng của một cá nhân trước sự áp chế của ý thức cộng đồng, không phải được chứng minh bằng sự công nhận của cái cộng đồng ấy (điều này là  bất khả), mà ở chính nó, ở ý thức tự do, ở thái độ và sự tự chủ trước cái cô đơn của cá nhân đó. Nó tự giành lấy và tự trao chiến thắng cho chính mình, điềm nhiên và thanh thản. Nhưng hình như đây vẫn chưa phải ám ảnh lớn nhất và duy nhất của truyện ngắn này. Những băn khoăn còn đến từ phía khác.

 Kết thúc của câu chuyện hiu hắt như một ngọn gió, nhẹ hẫng như hư không, và vời vợi một nỗi buồn. Nó không thôi chất vấn người ta về nỗi cô đơn không thể san sẻ của con người, về cái hiện tồn của mỗi cá nhân, về cái hư vô của tồn tại. Ở đây không có khẳng định, cũng chẳng có câu trả lời, mà chỉ có những hiu hắt, những xao xuyến. Nhưng là cái xao xuyến của “sự chân thực lạnh buốt”. Nên chúng khiến người ta không yên ổn, hay chí ít cũng đủ khiến người ta phân vân. Có lẽ thế, cái truyện ngắn bé xinh này của Nguyễn Huy Thiệp không phải là nơi trú chân đáng yêu đối với những người chỉ muốn dạo chơi, vì nó không cho người ta quyền được yên tâm khi chỉ đọc một lần. Và khi nó đã len vào tâm hồn kẻ nào đó, thì không những nó sẽ “ở lại” mà còn “trở lại nhiều lần”(10). Bài viết này là kết quả của sự ở lại và nhiều lần trở lại ấy, đồng thời, là để trả nợ cho những dang dở của quá khứ. Nhưng biết đâu, có thể nó (tiếp tục) là một khởi đầu của những dang dở mới?

Hà nội, đầu tháng 11 – 2012.

 Những đoạn trích truyện ngắn Trương Chi được lấy trong tập truyện Thương cả cho đời bạc của Nguyễn Huy Thiệp, NXB Văn hóa – Thông tin, 2000, trang 132-144.
* The Tree of Life là bộ phim của đạo diễn Mỹ, Terrence Malick, phát hành năm 2011, bộ phim, giành được rất nhiều giải thưởng tại các liên hoan phim quốc tế, trong đó có giải Cành cọ vàng, tại Liên hoan phim Cannes lần thứ 64.
(1), (2),(3)Ý thức cộng đồng và số phận cá nhân (nhìn lại bi kịch Chí Phèo), Nguyễn Thị Từ Huy, in trong Kỷ yếu hội thảo khoa học những nhà nghiên cứu ngữ văn trẻ, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2004, trang 234-241.
(4)Truyện ngắn Không khóc ở California, in trong tập Thương cả cho đời bạc, trang 233.
(5), (8),(9)Truyện ngắn Những bài học nông thôn, in trong tập truyện Những truyện nông thôn của Nguyễn Huy Thiệp, NXB Hội nhà văn, 2004, trang 26 và 27.
(6),(7)Truyện ngắn Nguyễn Thị Lộ, in trong tập truyện Thương cả cho đời bạc, trang123.
(10) Mượn cách diễn đạt của Inrasara trong bài viết tưởng niệm Phạm Công Thiện – Chớp lửa thiêng Phạm Công Thiện và tuổi trẻ tôi, nguồn: www.tienve.org

Tác giả: Đoàn Huyền. Nguồn Văn chương Việt.